| Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản |
|
|
|
|
Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản * Đầu thế kỷ 20, phong trào Đông Du đã đưa một số thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập đường hướng cải cách nhằm văn minh hóa đất nước, tìm con đường giải phóng Tổ quốc khỏi ngoại bang. * Trong Đệ nhị thế chiến, Nhật Bản từng xâm lược Việt Nam, hất cẳng Pháp để lập chính phủ thân Nhật do Trần Trọng Kim làm thủ tướng và đổi quốc hiệu là Đế Quốc Việt Nam. * Trong Chiến tranh Việt Nam lần thứ hai, Nhật Bản có quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam Cộng hòa và có quan hệ thương mại không chính thức với Việt Nam Dân chủ cộng hòa. * Ngày 21 tháng 9 năm 1973, Việt Nam Dân chủ cộng hòa và sau này là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ ngoại giao chính thức với Nhật Bản. * Năm 2002, Lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất xây dựng quan hệ Việt Nam-Nhật Bản theo phương châm "đối tác tin cậy, ổn định lâu dài". Trong chuyến thăm Việt Nam 7/2004 của Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung "Vươn tới tầm cao mới của đối tác bền vững". Ngày 29/9, tại Hà Nội, Việt Nam và Nhật Bản đã hoàn tất thoả thuận nguyên tắc về Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (EPA). Đây là Hiệp định đối tác kinh tế đầu tiên của Việt Nam với một quốc gia. Hiệp định EPA Việt Nam - Nhật Bản là một thoả thuận song phương mang tính toàn diện, được xây dựng phù hợp với các chuẩn mực và nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Với tầm nhìn dài hạn, Hiệp định EPA Việt Nam - Nhật Bản hướng tới mục tiêu tạo nên sự liên thông thuận lợi về hàng hoá, vốn, công nghệ và lao động có tay nghề của hai nước, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hai nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Hiệp định bao gồm các cam kết về tự do hoá thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và các nội dung hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Một trong những trọng tâm của Hiệp định là tăng cường hợp tác kinh tế trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, du lịch, môi trường, giao thông vận tải. Ngay sau khi nối lại viện trợ cho Việt Nam vào năm 1981, Nhật Bản đã liên tục dẫn đầu danh sách các quốc gia viện trợ ODA cho Việt Nam, chiếm 30% tổng khối lượng ODA mà các nước cam kết dành cho Việt Nam. Hai bên đã thoả thuận chương trình viện trợ lâu dài của Nhật Bản cho Việt Nam nhằm vào 5 lĩnh vực chính là: phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế; xây dựng và cải tạo các công trình giao thông và điện lực; phát triển nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển giáo dục đào tạo và y tế; bảo vệ môi trường. Ngày 2/6/04, Nhật Bản đã công bố chính sách viện trợ ODA mới cho Việt Nam với 3 mục tiêu chính: Thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện đời sống - xã hội, hoàn thiện cơ cấu. Hợp tác lao động Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử 16 ngàn tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật. Nhật là một thị trường tiềm năng cho lao động Việt nam trong 5-10 năm tới. Văn hóa giáo dục Hai nước đang triển khai các chương trình đào tạo con người và trao đổi các đoàn văn hóa, những người người tình nguyện, chuyên gia. Hàng năm Chính phủ Nhật viện trợ cho Việt Nam từ 1 đến 2 dự án viện trợ văn hoá không hoàn lại như thiết bị học ngoại ngữ, thiết bị bảo quản tư liệu Viện Hán-Nôm, Bảo tàng Lịch sử, xưởng phim hoạt hình. Về giáo dục, Chính phủ Nhật Bản nhận khoảng trên 100 học sinh sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản đào tạo hàng năm. Ngoài ra còn có nhiều học sinh du học tự túc. Tổng số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật hiện nay khoảng hơn 1000 người. Trong 5 năm (1994-1999), Chính phủ Nhật đã viện trợ 9,5 tỉ yên để xây dựng 195 trường tiểu học ở các tỉnh miền núi và vùng ven biển hay bị thiên tai. Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản tại Việt Vam bắt đầu mở cửa từ ngày 1 tháng 4 năm 2008 tại 27 phố Quang Trung, Hà Nội. Ngoài việc phổ cập tiếng Nhật, Trung tâm dự kiến sẽ tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, cung cấp các thông tin liên quan đến văn hóa Nhật Bản và giao lưu văn hóa giữa Nhật Bản và Việt Nam . Nhật Bản cũng là một thị trường được chú trọng để phát triển du lịch Việt Nam. Năm 2002 đã có 280 ngàn. Do ảnh hưởng của SARS, du lịch Nhật Bản vào Việt nam trong năm 2003 giảm sút. Tuy nhiên, cơ hội và tiềm năng thúc đẩy hợp tác du lịch giữa hai nước còn rất lớn. Từ tháng 1/2004, Việt Nam đã chính thức đơn phương miễn thị thực cho người Nhật Bản đi du lịch và kinh doanh vào Việt Nam trong vòng 15 ngày và gần đây nhất từ 1/7/2004, Việt Nam đã quyết định miễn thị thực nhập cảnh ngắn hạn cho công dân Nhật. Đây là thuận lợi lớn để thúc đẩy du lịch Nhật Bản vào Việt Nam. Từ ngày 1/5/2005, Việt Nam và Nhật Bản song phương miễn thị thực hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ. Nhật Bản có kế hoạch tuyển dụng thêm nhân viên người nước ngoài bằng cách áp dụng những chính sách nhập cư linh hoạt, trong đó có chủ trương ưu tiên cấp thị thực dài hạn 5 năm cho những người có trình độ và tay nghề cao. Được biết, thị thực hiện nay chỉ có thời hạn 3 năm. Thị thực 5 năm áp dụng đối với những người làm việc trong các lĩnh vực cải tổ cơ cấu, đặc biệt ưu tiên các nhà nghiên cứu, các nhà đầu tư, giám đốc điều hành kinh doanh và chuyên gia xử lý thông tin. Ngoài ra, nhân viên y tế cũng được tuyển dụng vì lực lượng này có thể hỗ trợ trong việc chăm sóc người già, do số người già ở Nhật Bản đang tăng nhanh, trong khi tỷ lệ sinh giảm ở mức báo động. với kim ngạch đạt trên 12 tỷ USD, là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 và là nguồn đầu tư trực tiếp hàng đầu của Việt Nam. Dự kiến trong năm nay, kim ngạch thương mại của hai nước sẽ đạt trên 15 tỷ USD, vượt trước thời hạn hai năm so với mục tiêu đề ra là 15 tỷ USD vào năm 2010.
|
| < Trước | Tiếp > |
|---|




